Trong thời gian gần đây, làn sóng dư luận cả nước rộ lên hàng loạt những ý kiến trái chiều, ủng hộ có, phản đối cũng có, về chiến dịch “giành lại vỉa hè cho người đi bộ”. Chiến dịch bắt đầu được ra quân từ ngày 16/1 vừa qua tại Quận 1,Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Đoàn Ngọc Hải, Phó chủ tịch UBND Quận 1. Với quyết tâm muốn biến khu trung tâm Sài Gòn thành “Singapore thu nhỏ”, ông Hải dẫn đầu đoàn công tác gồm Ban quản lý trật tự đô thị, Công an Quận 1 đã thẳng tay xử lý các đối tượng có hành vi lấn chiếm vỉa hè, bất chấp nhiều sự phản đối kịch liệt. Có người cho rằng, hành động của ông Hải chưa theo sát các quy định của pháp luật, lợi dụng quyền lực Nhà nước xâm hại trái phép đến tài sản của công dân. Bên cạnh đó, phần đông đều thể hiện sự đồng tình, khuyến khích những nỗ lực, quyết tâm của ông cùng đoàn công tác, một số cá nhân, tổ chức còn tự nguyện phối hợp phá hủy, dỡ bỏ những công trình lấn chiếm để trả lại vỉa hè cho người đi bộ.

Những ý kiến được đưa ra đều có cái lý riêng, tuy nhiên, để có một cái nhìn khách quan và trung thực nhất, chúng ta hãy cùng xem xét chúng dưới góc độ pháp luật.

  1. Khái niệm “vỉa hè” và hành vi “lấn chiếm vỉa hè” theo quy định của pháp luật:

Tại khoản 2 Mục II Thông tư số 04/2008/TT-BXD về hướng dẫn quản lý đường đô thị được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 16/2009/TT-BXD có quy định như sau: “Hè (hay vỉa hè, hè phố): là bộ phận của đường đô thị, phục vụ chủ yếu cho người đi bộ và kết hợp là nơi bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị dọc tuyến”.Tại khoản 1 Mục này cũng có giải thích khái niệm “đường đô thị”: “Đường đô thị (hay đường phố): là đường bộ nằm trong địa giới hành chính đô thị, được giới hạn bởi chỉ giới đường đỏ theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Như vậy, có thể thấy rằng quy định pháp luật Việt Nam về vỉa hè còn khá sơ sài, chưa cụ thể. Tuy nhiên, từ hai khái niệm trên, ta có thể hiểu rằng không phải bất kỳ con đường nào cũng được coi là “đường đô thị”, mà chỉ những con đường thuộc quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt mới trở thành” đường đô thị. Và vì thế, vỉa hè, vốn là một bộ phận của đường đô thị, cũng cần được xác định cụ thể trong quy hoạch của Nhà nước.

Căn cứ theo Thông tư số 04/2008/TT-BXD, tại Phần 3 thì trách nhiệm quản lý đường đô thị thuộc về UBND các cấp, với sự tham mưu của Sở Xây dựng các tỉnh và Sở Giao thông công chính các thành phố trực thuộc Trung ương. Cụ thể hơn, tại điểm b khoản 2 Mục II Phần 3 Thông tư này có quy định rõ trách nhiệm quản lý hành chính trong việc đề ra các biện pháp chống lấn chiếm hè phố, lòng đường thuộc về UBND cấp huyện.

Đối với hành vi “lấn chiếm vỉa hè”, khoản 1,2 Điều 36 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định như sau:

“Điều 36. Sử dụng đường phố và các hoạt động khác trên đường phố

  1. Lòng đường và hè phố chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông.
  2. Các hoạt động khác trên đường phố phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của Luật này, trường hợp đặc biệt, việc sử dụng tạm thời một phần lòng đường, hè phố vào mục đích khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhưng không được làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông.”

Ngoài ra, tại điểm 14 mục 4 phần 2 Thông tư 04/2008/TT-BXD cũng có quy định: “Chỉ một số công trình, tuyến phố đặc thù mới được phép sử dụng hè phố vào việc kinh doanh, buôn bán hàng hóa. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định danh mục công trình và tuyến phố được phép sử dụng hè phố vào việc kinh doanh, buôn bán trên cơ sở bảo đảm các yêu cầu sau đây:

  1. a) Chiều rộng hè phố còn lại dành cho người đi bộ tối thiểu là 1,5m;
  2. b) Bảo đảm an toàn, thuận tiện giao thông; bảo đảm mỹ quan, vệ sinh môi trường đô thị và không ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của hộ gia đình, chủ công trình trên tuyến phố;
  3. c) Không cho phép tổ chức kinh doanh buôn bán trước mặt tiền của các công trình văn hoá, giáo dục, thể thao, y tế, tôn giáo, công sở.”

Như vậy, việc sử dụng vỉa hè ngoài mục đích giao thông sẽ được xem là lấn chiếm vỉa hè nếu không thỏa mãn một trong những điều kiện kể trên.

  1. Quy định của pháp luật đối với hành vi lấn chiếm vỉa hè

Cần xác định rõ lấn chiếm đất công là một hành vi bị cấm thể hiện trong nhiều chế định luật: Luật Đất đai 2013 (khoản 1 Điều 12), Luật Giao thông đường bộ 2008 (khoản 3 Điều 8, Điều 36), Luật Xây dựng 2014 (khoản 11 Điều 12). Như vậy, lấn chiếm vỉa hè là một hành vi vi phạm pháp luật, phải bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại Điều 12 Nghị định 46/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có quy định hành vi sử dụng trái phép hè phố, gây cản trở giao thông chịu mức phạt dao động từ 100.000 đến 20.000.000 đồng. Bên cạnh việc bị xử phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm: buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng trái phép, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn rác, vật tư, vật liệu, chất phế thải, hàng hóa, máy móc,thiết bị, các loại vật dụng và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra (khoản 9 Điều 12 Nghị định này).

  1. Chiến dịch “Giành lại vỉa hè” dưới góc độ pháp lý:

Như vậy, sau khi xác định rõ hành vi “lấn chiếm vỉa hè” của một cá nhân, tổ chức là một hành vi vi phạm pháp luật, phải chịu một số chế tài nhất định, vấn đề tiếp theo cần đặt ra đó là ai sẽ có thẩm quyền áp dụng các chế tài đó. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 38 và khoản 3 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (Luật XLVPHC) thì Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền ra quyết định xử phạt và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả cho trường hợp này. Ngoài ra, căn cứ khoản 1 Điều 54, Chủ tịch được phép ủy quyền lại cho Phó chủ tịch.

Về mặt thủ tục, căn cứ theo Luật XLVPHC, việc xử phạt đối với trường hợp này tuân thủ theo trình tự sau:

  • Lập biên bản vi phạm hành chính, đưa cho cá nhân, tổ chức vi phạm ký và giữ một bản (Điều 58 Luật XLVPHC)
  • Giải trình nếu mức xử phạt tối đa là 15.000.000 đồng, thời hạn: không quá 05 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính và được gia hạn tối đa thêm 05 ngày nữa nếu vụ việc có tình tiết phức tạp (tham khảo thêm tại khoản 2, 3 Điều 61 Luật XLVPHC).
  • Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thời hạn: 7 ngày đối với vụ đơn giản, 30 ngày đối với vụ phức tạp kể từ ngày lập biên bản, gia hạn tối đa 30 ngày. Nếu quá thời hạn trên thì không được ra quyết định nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (căn cứ Điều 66 Luật XLVPHC). Trong quyết định có nêu rõ hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả, thời hạn và nơi thi hành quyết định (khoản 1 Điều 68 Luật XLVPHC)
  • Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt để thi hành (Điều 70 Luật XLVPHC)
  • Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó. (khoản 1 Điều 73 Luật XLVPHC)

Như vậy, việc xử phạt vi phạm đối với hành vi lấn chiếm vỉa hè phải luôn bảo đảm đủ các bước như trên, trừ các trường hợp sau (căn cứ khoản 1 Điều 65 Luật XLVPHC):

  • Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (2 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm – điểm a, b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC)
  • Hết thời hạn ra quyết định xử phạt (Điều 66 Luật XLVPHC)
  • Hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (1 năm kể từ ngày ra quyết định – khoản 1 Điều 74 Luật XLVPHC).

Đối với 2 trường hợp đầu, người có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt nhưng có thể ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (khoản 2 Điều 64 Luật XLVPHC). Đối với trường hợp thứ 3, người có thẩm quyền vẫn được phép áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả mà không cần ra quyết định xử phạt mới, tuy nhiên phải trình ra được quyết định xử phạt đã ban hành để làm cơ sở áp dụng.

Xét thấy, việc buộc tháo dỡ các công trình, phần công trình xây dựng lấn chiếm vỉa hè trong chiến dịch “Giành lại vỉa hè cho người đi bộ” vừa qua chính là áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính quy định tại điểm b khoản 1 Điều 28 Luật XLVPHC, điều này cũng đúng trong pháp luật về xây dựng.

Về quy trình áp dụng, như đã trình bày ở trên, trừ một số trường hợp nhất định, còn lại phải đảm bảo tuân theo đúng trình tự, thủ tục đã được quy định cụ thể trong Luật XLVPHC, nghĩa là phải có lập biên bản; ra quyết định xử phạt; gửi quyết định đó cho cá nhân, tổ chức vi phạm; căn cứ theo quyết định đó, cá nhân, tổ chức vi phạm sẽ tự thi hành theo thời hạn nêu trong quyết định.

Trong mọi trường hợp, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả phải dựa trên cơ sở quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã ban hành, nếu thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền vẫn phải ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả (khoản 2 Điều 65 Luật XLVPHC). Các quyết định này ghi rõ thời hạn và nơi thi hành biện pháp khắc phục hậu quả, trách nhiệm thi hành và việc cưỡng chế trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng không tự nguyện chấp hành.

Có thể thấy, nghĩa vụ thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trước nhất thuộc về cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, Người có thẩm quyền ra quyết định chỉ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Sau khi hết thời hạn đã nêu rõ trong quyết định xử phạt mà cá nhân, tổ chức vi phạm không tự nguyện chấp hành thì người có thẩm quyền sẽ ra quyết định cưỡng chế thi hành gửi cho các cơ quan, tổ chức liên quan, sau đó tổ chức thực hiện việc cưỡng chế thi hành (căn cứ Điều 86, 88 Luật XLVPHC).

Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, nếu không hoàn trả thì bị cưỡng chế thực hiện (Căn cứ khoản 5 Điều 85).

Tại điểm b khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC có quy định: “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật” . Ngoài ra, tại khoản 5 Điều 12 cũng quy định việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả không đúng thủ tục là hành vi bị cấm. Vì thế, nếu hành vi cưỡng chế áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là sai trình tự, thủ tục pháp lý, cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có thể yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại (căn cứ khoản 3 Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước).

Hy vọng những thông tin mà chúng tôi vừa cung cấp sẽ mang đến cho độc giả một cái nhìn khách quan hơn đối với chiến dịch “Giành lại vỉa hè cho người đi bộ”.

Ls. Lê Nguyễn Thế Hưng

Giám đốc Công ty Luật TNHH Vega

(Bài viết được đăng trên Báo Mặt Trận số tháng 4.2017)

Vega_News_Gianh lai via he cho nguoi di bo duoi goc do phap ly (Bao Mat Tran)_vn