LY HÔN VỚI NGƯỜI MẤT HOẶC HẠN CHẾ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ

Không phải bất cứ cuộc hôn nhân nào cũng có một bắt đầu tốt đẹp và một kết thúc viên mãn. Nếu cuộc  sống hôn nhân ấy không còn là niềm vui, là sự cùng nhau cố gắng mà trở thành gánh nặng và sự mệt mỏi đè nén; sau bao nhiêu nỗ lực hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả thì cả hai đều nên nhìn lại cuộc sống ấy. Đôi khi ly hôn lại là một cánh cửa mở ra cuộc sống mới để cả hai đều sống lại cuộc đời của mỗi người một cách thoải mái hơn và tích cực hơn.

Tuy nhiên khi nhắc đến vấn đề ly hôn quý khách hàng lại luôn có những rắc rối và thắc mắc xuất hiện đi kèm với thủ tục ly hôn. Điển hình đó là trường hợp ly hôn với người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

  1. Chúng ta có hai trường hợp cụ thể:
  • Người vợ/chồng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự muốn ly hôn với người còn lại:

Căn cứ Khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.”

Theo như quy định trên thì trong trường hợp người vợ/chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì cha, mẹ hoặc người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Ngoài cha, mẹ và người thân thích khác ra thì theo Khoản 1 điều 187 BLTTDS 2015 còn quy định các chủ thể khác như Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

  • Người vợ/chồng muốn ly hôn với người còn lại bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự:

Căn cứ Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”

Như vậy, Luật chỉ quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi chứ không hạn chế hoặc cấm đối với trường hợp người vợ/chồng ly hôn với người còn lại bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự .

  1. Vậy thế nào là mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?

Theo Khoản 1 Điều 22, Khoản 1, 3  Điều 24 Bộ luật dân sự 2015 quy định đối với trường hợp bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự như sau:

“Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

Điều 24. Hạn chế năng lực hành vi dân sự

1. Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

3. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.”

Do đó, trước khi tiến hành ly hôn thì người vợ/chồng phải yêu cầu Tòa án tuyên bố người còn lại mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự rồi mới tiến hành ly hôn theo thủ tục chung được nếu không tuyên bố thì Tòa sẽ không thể giải quyết ly hôn.

Căn cứ Khoản 1 Điều 27 Bộ luật dân sự 2015 về những yêu cầu về dân sự thuộc về thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

“Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.”

Theo Khoản  4 Điều 69 BLTTDS 2015 qui định: “Người mất năng lực hành vi dân sự thì không có năng lực hành vi tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện”.

  1. Trong trường hợp người vợ/chồng muốn ly hôn với người còn lại bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì ai sẽ là người đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân  sự ?

Theo Khoản 3 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Điều 24. Căn cứ xác lập đại diện giữa vợ và chồng

3. Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trong trường hợp một bên vợ, chồng mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì căn cứ vào quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự, Tòa án chỉ định người khác đại diện cho người bị mất năng lực hành vi dân sự để giải quyết việc ly hôn.”

Đồng thời theo Khoản 3 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự thì trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Nếu cha mẹ của người bị mất năng lực hành vi dân sự không có đủ điều kiện giám hộ (hoặc đã chết hoặc không có cha mẹ) thì Toà án sẽ chỉ định người thân thích. Thêm vào đó theo khoản 1 Điều 88 BLTTDS 2015 quy định: Khi tiến hành tố tụng dân sự, nếu có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi mà không có người đại diện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 87 của BLTTDS 2015 này thì Tòa án phải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng.

Theo điều 207 BLTTDS 2015 quy định:

“Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.

3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.”

Như vậy đối với trường hợp ly hôn với người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì không tiến hành hòa giải.

  1. Thủ tục ly hôn với người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự:

Bước 1: Trong trường hợp người vợ/chồng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự nhưng chưa được Tòa án tuyên bố là người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì cần tiến hành làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ/chồng mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;

Bước 2: Sau khi Tòa án xem xét đủ căn cứ tuyên bố người vợ/chồng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự thì Tòa án sẽ ra tuyên bố người vợ/chồng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;

Bước 3: Sau khi có Tuyên bố người vợ/chồng bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự của Tòa án thì tiến hành thủ tục ly hôn theo thủ tục chung. Tuy nhiên thủ tục ly hôn với người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ không phải tiến hành hòa giải như thủ tục ly hôn thông thường.

  1. Các sai sót dẫn đến việc thực hiện thủ tục ly hôn bị kéo dài:
  • Không biết cách soạn đơn ly hôn với người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự ;
  • Không biết xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn nên bị Tòa án trả hồ sơ;
  • Không biết cách chuẩn bị bộ hồ sơ hoàn chỉnh để nộp cho Tòa;
  • Không biết cách thu tập các căn cứ chứng minh dẫn đến ảnh hưởng đến quyền lợi của bản thân;
  • Nộp thiếu giấy tờ dẫn đến phải đi lại nhiều lần mới hoàn thành bộ hồ sơ;
  • Bị thiếu, mất, rách giấy tờ bản chính.
  1. Công ty Luật TNHH VEGA giúp gì được cho Qúy Khách hàng:
  • Hỗ trợ soạn đơn Ly hôn với người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;
  • Tư vấn cách xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn;
  • Tư vấn các giấy tờ, cách chuẩn bị bộ hồ sơ cần thiết để nộp cho Tòa;
  • Hướng dẫn cách làm lại những giấy tờ đã bị mất, rách,…;
  • Tứ vấn, hướng dẫn cách thu thập căn cứ chứng minh để nộp cho Tòa án;

Để được tư vấn và hỗ trợ Quý khách vui lòng liên hệ:

VEGA LAW FIRM

Address: Tầng 3, Tòa nhà Thanh Niên Media, Số 345/134 Trần Hưng Đạo, Phường Cầu Kho, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Hotline: +84 2838 273747

Facebook: vegalawfirmvietnam

Email: info@vega-lawfirm.com

Website: www.vega-lawfirm.com

Công ty Luật TNHH VEGA rất mong được hỗ trợ và nhận được sự hợp tác từ Qúy khách hàng!

Trân trọng.